Kiến thức ô tô

Thiết kế khí động học trên ô tô, xuất phát từ đâu?

Rate this post

(news.oto-hui.com) —— Diện mạo của con người chỉnh sửa theo 5 tháng và càng ngày càng thích hợp với cuộc sống tiên tiến. Điều gần giống cũng xảy ra đối với những chiếc xe hơi, vốn đã từng rất khả quan về thiết kế mềm mại, đường cong, công dụng theo hướng cơ bắp và hình hộp. Sự chỉnh sửa này đã mở ra 1 thời đoạn hoàng kim của việc vận dụng khí động học để tiết kiệm nhiên liệu và tăng vận tốc của xe. Vậy thiết kế khí động học của oto bắt nguồn từ đâu?

Thiết kế khí động học trên ô tô, xuất phát từ đâu?
Thiết kế khí động học của oto bắt nguồn từ đâu?

Ngày nay, người nào cũng biết xe có chỉ số cản càng thấp thì càng tiết kiệm xăng, chạy êm hơn và êm hơn. Tuy nhiên, trong những ngày đầu của ngành công nghiệp oto, thiết kế khí động học chỉ vào vai trò thứ yếu so với các vấn đề kinh tế và kỹ thuật.

Thiết kế khí động học của oto – Ai là người thủ xướng?

1. Eduard Rumpler – Cha đẻ của Hàng ko Đức:

Người trước tiên thủ xướng mẫu hình khí động học trên oto là đơn vị thiết kế nổi danh Edward Rampler, cha đẻ của ngành hàng ko Đức.

Eduard Rumpler (1872 - 1940), ngoài cùng bên phải.
Eduard Rumpler (1872-1940), ngoài cùng bên phải.

Kinh nghiệm quý giá có được từ ngành công nghiệp oto trong Thế chiến thứ nhất đã giúp ông thuyết phục toàn thể ngành công nghiệp oto về những thế mạnh vượt bậc của khí động học.

5 1921, chiếc oto hình giọt nước trước tiên do ông thiết kế đã gây chấn động toàn thể triển lãm oto 5 1921 vì nó có hệ số cản chỉ 0,27, so với hệ số cản trung bình của tất cả các xe là 0,27, vẫn ở mức 0,4 cho các loại xe cho tới 5 1984. Nhưng thật rủi ro , những gian truân trong việc tăng trưởng động cơ đã ngăn cản dự án biến thành hiện thực.

Chiếc xe đầu tiên do Eduard Rumpler thiết kế theo hướng khí động học
Chiếc xe trước tiên do Eduard Rumpler thiết kế theo hướng khí động học

2. Paul Jaray – Mẫu hình thiết kế mai sau:

Paul Jarret (1889 - 1974)
Paul Jarret (1889 – 1974)

Ở tuổi 33, Paul Jaray được cấp bằng sáng chế phát minh ra “chiếc xe của mai sau” 1 5 sau lúc ra mắt chiếc xe Rumpler. Kỹ sư trẻ người Hungary đã dành phần mập thời kì và sức lực để nghiên cứu lực cản của ko khí, tính toán các thành phần khí động học để thiết kế thứ nhưng mà anh tin là khung gầm oto của mai sau.

Ý kiến ​​của Paul Jarre
Quan điểm ​​của Paul Jarre

Sự dị biệt mập nhất trong các bức tranh của Jaray là mặt trước và mặt sau. Bỏ dở thiết kế lưới tản nhiệt kiểu “cửa lò” thường thấy trên những chiếc xe tiên tiến, Jaray đã làm cong phần đầu xe giúp nó tiếp thu luồng gió chuyển di ngược chiều 1 cách êm ái và ít lực cản hơn.

Thiết kế khí động học của Tatra
Thiết kế khí động học của Tatra

Từ ý kiến vật lý, Jaray cho rằng thiết kế đuôi vuông giống xe ngựa là hoàn toàn “phản khoa học”.

  • Khi chiếc xe chuyển di, 1 khoảng chân ko được tạo ra ở phần đuôi hình vuông do sự tạo nên của luồng ko khí hỗn loạn và xoáy.
  • Áp suất cao phía trước liên kết với chân ko ở phía sau làm tăng lực cản khí động học lên đáng kể, khiến xe phải hoạt động nhiều hơn.
  Cảm biến oxy hoạt động như thế nào?

Để vượt qua trở ngại vật này, Paul Jaray đã “thu” đuôi xe theo hình côn theo quỹ đạo chuyển di, dẫn tới luồng gió liên tiếp thoát ra phía sau xe nhưng mà ko có điểm xoáy cục bộ nào.

Ô tô do Paul Jarre thiết kế
Oto do Paul Jarre thiết kế

chỉ số cản gió là đại lượng dùng để bình chọn chừng độ cản hình học của luồng ko khí đối với các phần tử chuyển di trong đấy. Sức cản của gió là 1 hằng số ko có đơn vị, ko dựa dẫm vào vận tốc của các vật thể, nó chỉ dựa dẫm vào dạng hình của chúng.

Trong 10 5 tiếp theo, ngành công nghiệp oto đã từ bỏ phát minh của Paul Jaray, điều nhưng mà đúng ra sẽ bị quên lãng mãi mãi nếu ko xảy ra những sự kiện chưa từng có trong đầu các kỹ sư oto.

  3 điều dễ nhầm lẫn khi hiểu về hệ thống kiểm soát hành trình Cruise Control

Vào những 5 1930-1940, đua xe bỗng chốc biến thành “mốt”, thành trào lưu và là thứ để những bigwigs sinh tồn sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 1929 trình bày tài năng của mình. Dưới sức ép về thành tựu của 1 kỹ sư như ông chủ, chỉ quen với định nghĩa công nghệ, hãy quyết tâm tạo ra chiếc xe càng mạnh càng tốt. Tuy nhiên, tại Le Mans 5 1937, Adler Trumpf Rennsport Coupe 1,7 lít đã gây chấn động toàn cầu với 2 thắng lợi trước động cơ 2 lít.

Adler Trumpf Rennsport Coupe 1937
Adler Trumpf Rennsport Coupe 1937
  • Odd bật mí kín đáo: Trumpf Rennsport Coupe rất kỹ thuật và khí động học. Thân xe được sản xuất với sự hiệp tác của nhà khí động học nổi danh BRvon Koenig-Fachsenfeld.

Tatra là nhà cung cấp xe hơi trước tiên bắt chước thiết kế của Jaray, ra mắt 2 mẫu xe vào 5 1934 là Tatra Dynamic và Tatra 77, đặc trưng là mẫu 5 1938 có chỉ số gió là 0,212. Nhưng vận tốc của xe khi đấy chưa đủ cao và Tatra 77 mất đi vẻ đẹp vốn có do quá chú trọng vào khí động học, việc mẫu xe này thất bại là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Tatra 77 (1934)
Tatra 77 (1934)

Sự thành công của Alder ở Đức và sự có mặt trên thị trường của Chrysler Airflow vào 5 1934 là những chứng cớ trước tiên về sự đúng mực của Paul Jaray. Các nhà cung cấp mở đầu ân cần tới khí động học mà tất cả chỉ ngừng lại trên đường đua, và phải thừa nhận rằng thiết kế của Paul Jaray ko được công chúng đón chờ.

Chrysler Airstream 1934
Chrysler Airstream 1934

Bước đột phá trong vận may của bản thiết kế của Jaray mãi tới cuối những 5 1930 mới được phát hiện.

3. Bước đột phá Thế chiến II Volkswagen:

Nó mở đầu ở Đức vào 5 1932, lúc Adolf Hitler và Đảng Quốc xã của ông ta giành thắng lợi. 1 trong những tham vọng của Hitler là sản xuất 1 chiếc xe hơi bình thường như Ford Model T vào thời khắc chuyển giao thế kỷ. Ferdinand Porsche và đồng nghiệp Erwin Komenda, lúc đấy đang làm việc tại Volkswagen, được triệu tập để phác thảo chiếc xe theo ý muốn của Hitler.

  Những điều cần biết về nắp máy động cơ

Tuy nhiên, lúc nhìn vào thiết kế thuở đầu của Komada, do ko thích phần đầu xe nên Hitler đã “tự đắc” đổi nó thành thứ gì đấy cong hơn, chịu tác động của xu thế thiết kế khí động học. Và, “Con bọ” nổi danh của Volkswagen đã có mặt trên thị trường, 1 trong những chiếc xe thành công nhất mọi thời đại.

4. General Motors – Kế thừa và Phát triển các Thiết kế Trước đây:

Nhờ họa tiết “con bọ”, thiết kế của Paul Jaray chuyển từ lý thuyết sang thực tiễn. Nhưng Chiến tranh toàn cầu thứ 2 đã đặt dấu chấm hết cho mọi ý nghĩ tăng trưởng khí động học của châu Âu. Ngược lại, đấy là xu thế thiết kế của ngành công nghiệp oto Mỹ “chạy theo trào lưu” thời Chiến tranh Lạnh.

1961 Chrysler Turboflite
1961 Chrysler Turboflite

Mỗi 5 1 lần, từ 5 1949 tới 5 1961, General Motors phát hành 1 chiếc xe trong loạt phim có tên “Chiếc ôtô ước mơ”, tất cả các mẫu hình ý nghĩ thực tiễn nhất về hoả tiễn, tàu bay, tàu vũ trụ, cá dưới nước, … Các chuyên gia gọi “oto ước mơ” là “oto ước mơ”ám ảnh về khí động họctrong Tư duy Thiết kế của Mỹ.

Ca sĩ người Mỹ Bobby Darin và Dream Car những năm 1960
Ca sĩ người Mỹ Bobby Darin và Dream Car những 5 1960

Nhưng kế bên những mẫu concept “kỳ quặc”, 1945-1970 còn là thời đoạn nhưng mà các đường nét cấu trúc thân xe được hoàn thiện theo đúng triết lý tiên tiến.

Harley J. Earl (1893 - 1969): Thiết kế huyền thoại của General Motors.
Harley J. Earl (1893 – 1969): Thiết kế huyền thoại của General Motors.

Nhà thiết kếHarley J. Earl General Motors nổi danh là hãng trước tiên liên kết thành công tính khí động học với tính thẩm mỹ mong muốn của xe. Anh hạ thấp thân thể, biến nó từ 1 “khối lập phương” thành “cục gạch” với 2 mục tiêu: giảm lực cản và tăng sức thu hút. Những đường cong sắc nét trên đèn pha, những đường gờ nổi dài trên đèn hậu, và thân hình mảnh khảnh, uyển chuyển là những nét đặc biệt nhất của lứa tuổi xe “sinh ra” thời đoạn này.


Những bài viết liên can:

  • Khí động học tác động như thế nào tới chuyển di của oto?
  • Hệ thống khí động học Porsche Active Aerodynamics của xế hộp 911 Turbo S 2021 có gì đặc trưng?

Quảng cáo

VuManh Le

A humble man who wants to challenge and explore himself in his 30s

Related Articles

Back to top button